fbpx
business-analysis-vs-business-analytics

Phân biệt Business Analysis và Business Analytics

Analysis — sự phân tích, phép phân tích, là sự tách rời nhiều thành phần riêng nhỏ từ một tổng thể, nghiên cứu từng phần nhỏ và tìm mối liên hệ giữa các phần trong tổng thể lớn. Analytics — môn giải tích, môn phân tích, là giải thích tính logic hay những nguyên tắc nhằm ứng dụng cho phép phân tích ở trên (Analysis)

Cùng với sự phát triển kiến thức và hiểu biết ngày càng tăng, khái niệm “Analysis” và “Analytics” đã gây ra  sự nhầm lẫn rõ rệt giữa về điểm giống hay khác nhau về mục đích làm việc khi muốn theo đuổi ngành nghề này. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về định nghĩa chính xác và ứng dụng của Business Analysis và Business Analytics. Qua đó, tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa hai khái niệm để biết được rằng chúng ta sẽ cần những kỹ năng gì để phát triển trong từng lĩnh vực.

Business là vấn đề (cần bàn, cần xử lý), là kinh doanh (công việc, nghề nghiệp) hay còn là nghiệp vụ (chuyên môn). Data là dữ liệu, thông tin, không chỉ là qua các phần mềm, lưu trữ ở Data Warehouse,… mà là tất cả những thứ quanh ta câu nói, tính cách, hành vi người đối diện cũng là data đối với ta.

Analysis — sự phân tích, phép phân tích, là sự tách rời nhiều thành phần riêng nhỏ từ một tổng thể, nghiên cứu từng phần nhỏ và tìm mối liên hệ giữa các phần trong tổng thể lớn. Analytics — môn giải tích, môn phân tích, là giải thích tính logic hay những nguyên tắc nhằm ứng dụng cho phép phân tích ở trên (Analysis)

Business Analysis – Phân tích nghiệp vụ 

Chuyên viên phân tích nghiệp vụ là những kỹ sư cầu nối, người nhận ra các vấn đề của khách hàng (nội bộ hoặc với bên ngoài), từ đó phân tích nguyên nhân và đề nghị các giải phải để khắc phục. Họ sẽ tập trung vào “quy trình và chức năng”. Việc dùng công nghệ để giải quyết 1 vấn đề — đó là bản chất của công việc của BA

Đây là một định nghĩa khá rộng, nếu có vấn đề thì có giải pháp nên nếu đúng theo định nghĩa IIBA (Tổ chức cấp chứng chỉ về nghề BA trụ sở ở Canada) thì: “Business Analysis is the practice of enabling change in an organizational context, by defining needs and recommending solutions that deliver value to stakeholders.”

+ Tập trung vào các quy trình, kỹ thuật và chức năng.

+ Được sử dụng để giải quyết những vấn đề phức tạp của doanh nghiệp và mang đến những thay đổi tích cực.

+ Được thực hiện bởi Business Analysts, Systems Analyst, Functional Analyst.

+ Kiến thức về chức năng, kinh doanh và các lĩnh vực thì cần thiết để làm công việc Business Analysis.

+ Các lĩnh vực tác động: Tổ chức, doanh nghiệp, quy trình, kinh doanh và công nghệ.

Như vậy BA là người thực hiện sự thay đổi, bằng cách xác định nhu cầu và đưa ra giải pháp mang lại giá trị cho các bên liên quan. Ở đâu có vấn đề thì ở đó có BA, họ đề xuất giải pháp cho mọi vấn đề doanh nghiệp gặp phải. Công việc của BA sẽ được chia ra, BA trong 1 công ty dịch vụ “outsource” thì khác so với làm ở “client”. Khi làm ở công ty client thì sẽ nghiêng hẳn về ngành nghề của client, tức chuyên sâu trong một lĩnh vực cụ thể (domain knowledge).

Làm BA ở client thì phải hiểu rất rõ về khách hàng của mình, hiểu rõ quy trình, nghiệp vụ trong công ty. Requirement có thể cũng sẽ rõ ràng hơn. Nhưng quan trọng nhất là phải tự trả lời được câu hỏi tại sao lại có requirement này. Nên công việc chủ yếu xoay quanh giải pháp, phạm vi công nghệ nhiều hơn, và có thể cảm thấy hàm lượng IT hơi nhiều so với BA “nhà người ta”.

Tuy nhiên, mỗi vai trò BA thì sẽ có phạm vi công việc khác nhau. Người thì chủ yếu giải quyết ở tầng high level (tầng manager, C-levels). Người thì chuyên về system hoặc chỉ tập trung làm requirement, hoặc database. Cho nên mức độ đụng tới coding và mức độ tương tác với khách hàng cũng khác nhau.

Cụ thể ở Việt Nam, số lượng các bạn BA tập trung nhiều nhất vẫn là các doanh nghiệp sản xuất và gia công phần mềm với tên gọi IT Business Analyst. Bao gồm 2 mảng là “non-IT-BA” và “IT BA”. Vậy “non IT BA” và “IT BA” có gì khác nhau? Nếu ở các công ty ‘non-tech’ thì vị trí này có thể kiêm nhiệm nhiều thành phần từ các bộ phận là sales hay marketing hay thậm chí là nhân sự được giao nhiệm vụ của BA. Còn IT BA là thành phần chủ yếu hiện nay. Chủ yếu sẽ tập trung ở mảng là triển khai ERP (giải pháp quản trị nguồn lực) hay CRM (giải pháp quản trị quan hệ khách hàng) hay các công ty Outsource lớn, và tất nhiên họ là cầu nối giữa vấn đề khách hàng từ bên ngoài đến bộ phận triển khai dự án bên trong (chủ yếu là những “dev guys” với ngôn ngữ thiên về công nghệ) nên khó có thể trực tiếp diễn trao đổi, hiểu được vấn đề khách hàng và đề xuất giải pháp.

Business Analytics — Phân tích dữ liệu kinh doanh

Business Analytics: Trọng tâm công việc như cái tên nói lên tất cả đó là đi vào phân tích dữ liệu kinh doanh, phát hiện ra những insight trong kinh doanh để đưa ra quyết định. Chính vì vậy ngành này cần đào tạo chuyên sâu vào kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, data từ kinh doanh và phương pháp ra quyết định dựa trên các phân tích đó.

Sử dụng các ứng dụng công nghệ (tools) và các phương pháp phân tích để xử lý dữ liệu, diễn giải bằng biểu đồ, sơ đồ cho các bên liên quan, từ đó đề xuất quyết định nhằm mục đích cuối cùng là phát triển, tăng doanh thu của công ty. Vị trí này chủ yếu tập trung tại các công ty đã vận hành ổn định hoặc công ty lớn, nhằm xử lý dữ liệu và đề xuất giải pháp, phương hướng phát triển kinh doanh.

Khá khó hiểu nhỉ? Vì thế hãy để ví dụ dưới đây làm rõ hơn câu nói ở trên:

Giả sử bạn là người đứng đầu của một công ty sản xuất thiết bị di động và được yêu cầu nghiên cứu để cho ra mắt một chiếc điện thoại mới. Bây giờ, bạn sẽ phải làm gì? Chúng ta hãy liệt kê các công việc cần làm thành một danh sách: Thu thập dữ liệu về việc sử dụng điện thoại trong vòng 5 năm qua

+ Thu thập thông tin về doanh số bán của những chiếc điện thoại trong 5 năm qua (công ty, địa điểm, giá bán hợp lý…)

+ Tìm ra những mẫu điện thoại bán thành công và thất bại bằng cách so sánh doanh số bán hàng.

+ Đánh giá điều gì khiến cho một vài chiếc điện thoại thành công và số khác thì thất bại bằng cách so sánh về các tham số như tính năng, giá…

+ Tìm hiểu xem có bất kỳ xu hướng và hiểu biết về các chi tiết và con số mà bạn có được.

+ Dự đoán các tính năng cần có trong chiếc điện thoại của bạn, giá bán và số lượng mà bạn sẽ bán được

+ Tập trung vào dữ liệu và phân tích thống kê.

+ Được sử dụng để dự đoán các trạng thái trong tương lai và thúc đẩy các quyết định kinh doanh.

+ Thống kê, toán học và lập trình là những kiến thức cần thiết cho công việc Business Analytics

Nhiều người sẽ nói đến xử lý dữ liệu thì là Data Analysis, ta sẽ bàn tiếp sau. Để tổng kết về 2 khái niệm này ta có thể sử dụng bảng như sau:

Image for post
So sánh function giữa Business Analysis vs Business Analytics

Business Analyst

Đây lại là một thuật ngữ chung nữa cho cả Business Analysis và Business Analytics — mô tả công việc (JD – Job Descriptions) của Business Analyst rất rộng tùy thuộc vào từng lĩnh vực, yêu cầu cụ thể của mỗi công ty trong lĩnh vực đó. Tuy vậy, cũng có những kỹ năng mà nhất thiết phải có:

Đầu tiên, khả năng xác định những chỉ số quan trọng nhất và liên quan cho lĩnh vực cụ thể mà công việc yêu cầu. Vì mỗi lĩnh vực như Bất động sản, E-commerce có những đặc điểm riêng của ngành hay những khái niệm, ngôn ngữ riêng, tất cả nên cần tìm hiểu trước. Việc tìm hiểu, chuẩn bị ứng tuyển cho vị trí BA trong những ngành cụ thể yêu cần mỗi ứng viên cần làm research trước và biết một số số liệu đặc trưng của lĩnh vực đó.

Thứ 2, khả năng sử dụng models thích hợp để phân tích số liệu, ví dụ trong Excel, một model có thể chia làm hai dạng, mặc định (in default) và không phải mặc định (not in default). Ta có thể sử dụng những mô thức đã có (historical patterns) để dự báo bao nhiêu khách hàng sẽ chuyển từ loại hình này sang loại khác trong tháng tới.

Thứ 3, biết và sử dụng mô hình hợp lý. Những mô hình khác nhau được xây dựng dựa trên những cách thực hiện hiệu quả như thế nào.

Thứ 4, khả năng lắng nghe, giao tiếp với khách hàng nội bộ hay bên ngoài để lấy được requirements (yêu cầu). Hầu hết kết quả làm việc của một BA là những dạng báo cáo khác nhau. Một tài liệu thường thấy là tài liệu yêu cầu từ khách hàng(a customer requirements document).

Thứ 5, kỹ năng Excel, bao gồm khả năng xác định patterns and trends trong dữ liệu kinh doanh, từ đó làm dự báo, tổ chức các thông tin cho hợp lý và kết luận bằng các biểu đồ hay đồ thị. Ở cấp độ cao hơn, là khả năng nhập (import) và quản lý lượng dữ liệu đủ lớn (large data sets), phát triển và kiểm tra các dạng models, và tối ưu hóa sau đó. 

Thứ 6, kỹ năng thuyết trình, một cách hiệu quả bao gồm: truyền tải thông tin rõ ràng, súc tích và thuyết phục, bằng lời nói và bằng PowerPoint.

Thứ 7, khả năng sử dụng tool trực quan hóa dữ liệu để chứng tỏ kết luận của BA và thể hiện một cách dễ hiểu cho đối tượng phi kỹ thuật. Công cụ nổi bật là Tableau. 

Qua những ví dụ trên ta thấy rằng Business Analytics chủ yếu được dùng để phân tách, phân cụm và phân loại dữ liệu tương tự sau đó tìm mối quan hệ giữa chúng và ý nghĩa trong đó. Ngoài ra, vì số liệu thống kê và dữ liệu lớn nên phạm vi của nó bị giới hạn trong các lĩnh vực và ngành công nghiệp mà có sẵn dữ liệu trước đó. Tuy nhiên, Business Analysis thì phổ biến trong cách tiếp cận và ứng dụng và vì nó hoạt động trên một tập các quy trình được xác định trước. Nên nó phù hợp rộng rãi để giải quyết rất nhiều vấn đề khác nhau thuộc các ngành công nghiệp khác nhau.

ĐĂNG KÝ NGAY khóa học Business Analysis tại Palos để ứng dụng linh hoạt các hoạt động công việc cho nhiều lĩnh vực khác tại đây

Bài viết liên quan

Chia sẻ ngay

Share on facebook
Share on linkedin

Đăng kí nhận thông tin hữu ích mỗi tuần từ Palos

Bạn đã đăng ký thành công!

Chúng mình sẽ liên hệ lại trong thời gian sớm nhất.
Nhận thêm thông tin bổ ích về ngành